Chiều Mưa Quê Ngoại

Xem kết quả: / 9
Bình thườngTuyệt vời 

Huỳnh Ngọc Nga

Đặt chân lên thành phố Sàigòn lần thứ hai này cùng má tôi sau mười năm cách biệt, chàng trai "hăm mốt" tuổi với hai giòng máu Ý-Việt trong tôi không hiểu mình đang là người tìm về nguồn cội hay chỉ là một khách du hành Âu Châu bình dị. Hình như tất cả nơi đây đều mới lạ, không chỉ riêng tôi nhận xét mà ngay cả má tôi cũng xác nhận điều này. Thành phố quê mẹ tôi sinh động và tươi đẹp hơn nhưng cũng mù mịt khói bụi lưu thông hơn. Duy chỉ một điều không thay đổi mà tôi nhớ lại được chốn này đó là những cơn mưa sáng, mưa chiều luôn hăm dọa những ai chưa từng quen hai mùa mưa nắng ở Việt Nam.

Sau bao ngày thăm viếng nơi này nơi nọ, hôm nay là ngày chay lạt của má tôi, dì Xuân - bạn thân của má tôi - đưa hai mẹ con tôi đến tiệm cơm chay Bồ Đề ở đường Phạm Ngũ Lão để dùng cơm trưa. Tiệm đông khách ra vào nườm nượp, chúng tôi khó khăn lắm mới tìm được một bàn trống gần cửa ra vào. Trong khi chúng tôi kêu và đợi món ăn, tôi tò mò nhìn ngắm chung quanh như thói quen của khách lạ phương xa và tôi bỗng thấy một hình ảnh đặc biệt. Một người đàn bà tàn tật cụt nửa chân, bà đang dùng hai đầu gối di động trên nửa đôi chân còn lại, lê lết khắp từ bàn này đến bàn khác để bán những tập lưu ảnh cảnh đẹp Việt Nam cho khách ăn trong các tiệm quán. Nét phong sương in hằn trên khuôn mặt, với bộ quần áo thô sơ nhưng bà có dáng vẻ tự tin, tự tại. Khi bà đến bàn chúng tôi, má tôi hỏi giá và dù biết hơi mắc hơn giá bán ở tiệm sách má tôi cũng mua hai tập ảnh để gửi bạn bè, bà con bên Ý.

Tôi chợt ngó sang trước tiệm đối diện khoảng cách không xa bên kia đường, có một tiệm bán thức ăn Ý và món pizza truyền thống của nơi tôi chào đời. Nhìn những món ăn chay mới được dọn ra tôi chợt thấy chán nản và nhớ làm sao một dĩa spaghetti hay một bánh pizza thân quen thường nhật. Tôi bỗng hiểu ra lý do vì sao những lần ở nhà tôi thấy má tôi thỉnh thoảng bảo thèm tô canh chua cá lóc, dĩa rau muống luộc xanh om, v.v. Thì ra hương vị thức ăn cũng là cái tình quê hương vô hình tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta, nhất là khi chúng ta bước chân đi xa rời nơi chốn cội nguồn.

Má tôi nhìn tôi và quả đúng là đôi mắt của người mẹ, người nhận ra liền sự thèm muốn đó trong tôi. Dúi vài tờ giấy bạc vào tay tôi, má tôi bảo tôi cứ tự nhiên sang tiệm bên kia ăn hoặc ở đó kêu món gì tôi thích rồi nhờ họ đem sang bên này bàn của chúng tôi. Thấy nơi ấy có nhiều khách phương Tây đang líu lo chuyện vãn, tôi đứng dậy bước sang chọn bàn ngồi gần để nghe ngóng xem họ có cùng giống tộc của Cesare như tôi không, nếu phải thì thực may biết mấy vì đi xa mà gặp đồng hương thì còn gì thú hơn. Và tôi nghe thất vọng khi thấy họ nói toàn tiếng Đức, nhưng đã lở ngồi rồi, tôi không dời về bàn cùng má tôi và dì Xuân nữa.

Người đàn bà tàn tật cụt chân đang tiến vào tiệm ăn tôi đang có mặt và hướng về phía sau lưng tôi, nơi có vài ba người ngoại quốc ở đó. Tôi không biết họ có mua không, chỉ thấy một lúc sau bà đi về phía chúng tôi. Có thể đã nhận ra tôi là người bên kia tiệm với má tôi nên bà không ghé bàn tôi mà dừng chân nơi bàn của những người khách Đức. Họ không ngước nhìn bà, cứ như sự hiện diện của bà chẳng có gì dù bà đang chìa ra một cọc bưu ảnh để mời họ mua. Bà cứ đứng đó chờ, có lẻ sự kiên nhẫn của bà làm họ bực bội nên một người trong bọn móc bóp rút ra tờ bạc mười ngàn đồng rồi ném lên bàn về phía bà mà không cần nhìn bà dù chỉ một ngước mắt để chọn bưu ảnh, họ muốn ngầm bảo với bà rằng tiền đó, bà hãy đi đi, họ không cần mua. Tôi cũng ngở là bà sẽ nhận tiền và bước đi, nhưng ngạc nhiên làm sao, bà cất tiếng rỏ ràng, tiếng Việt với những từ ngữ mà tôi dễ dàng hiểu được:

- Tôi bán bưu ảnh chứ không ăn xin. Nếu không mua, các ông hãy cất tiền của các ông đi, tôi không nhận.

Những ông khách da trắng đó ngẩn đầu lên ngó bà, họ chẳng hiểu bà nói gì, nhưng thấy bà đẩy tiền trả lại, họ bình thản cất tiền vào rồi tiếp tục nói chuyện với nhau, không màng nhìn đến bà nữa. Người đàn bà tàn tật khập khểng trên đôi đầu gối lặng lẻ bước ra khỏi tiệm và đi về đầu ngỏ. Tôi nhìn theo và chợt nghe xúc cảm dâng đầy. Người dân của quê ngoại tôi tự trọng đến thế sao? Vậy mà bấy lâu nay nghe má tôi thở than hoài về một quê hương khốn khổ sau hơn phần tư thế kỷ chiến chinh, tôi cứ ngở trong sự khốn cùng đó người ta có thể mất tất cả để đổi lấy miếng ăn. Ít ra giờ đây tôi đã thấy tận tường cái khí thanh cao trong mảnh áo nghèo của người phương Nam nước Việt, cái khí khái đó sao hao hao giống hình ảnh cậu bé Ý Đại Lợi của văn hào Edmondo De Amicis khi thảy tiền vào mặt những kẻ đã khinh thị nước Y’ của cậu. Và trong giây phút xúc cảm đó, tôi nghe sung sướng tự hào rằng mình mang trong người hai giòng máu của hai dân tộc chỉ biết ngẩng cao đầu. Buổi ăn tàn, tôi trở về bàn cùng má tôi và dì Xuân, kể lại chuyện vừa nghe thấy, tôi chép miệng nói với má tôi:

- Nếu gặp lại bà ấy lần nữa, con sẽ làm một cái gì đó có tình hơn cho bà.

Một tuần lễ trôi qua, tôi theo má tôi ruỗi dong từ thành phố nầy sang thành phố khác. Những chuyến xe liên tỉnh, những khách sạn lạ xa cho tôi thấy rõ hơn khác biệt của Việt Nam hôm nay và của mười năm về trứơc. Và hôm nay chúng tôi và dì Hai - chị bà con của má tôi –đang trên xe trở lại Saigon sau một ngày về Bến Tre thăm xứ dừa miền Tiền Giang sông nước. Trời lại đổ cơn mưa, tôi nghe bụng dạ lao xao đói, chỉ mong đến nơi sớm để cùng má và dì tôi ghé một tiệm quán nào đó ăn chiều. Xe Du Lịch Sinh Café bỏ chúng tôi xuống trước cửa Côngty đường Phạm ngũ Lảo, mưa vẫn chưa dứt hột. Má tôi thường bảo mưa nhiệt đới dai dẳng như mối tình dai dẳng của má đối với quê hương, tôi không biết sau những chuyến đi tham quan như vầy cái tình đó của má tôi có truyền sang được chút nào cho tôi hay không, chỉ biết rằng tôi mong mưa dứt hột để tôi không bị ướt trên đường về khách sạn vì từ nơi xuống xe đến nơi ở của chúng tôi chỉ cách hai con đường ngắn và bao nhiêu xe taxi đã được các khách tham quan đồng hành xuống trước tranh mất rồi. Nhưng khổ nổi má tôi chỉ đem theo có một cây dù trong khi chúng tôi có ba người. Tôi để dù cho má tôi và dì tôi che, còn tôi, tôi phóng nhanh người đi trước cho mau về đến nơi. Ngang qua khúc quẹo đường Bùi Viện để về khách sạn, tôi chợt dừng lại, không phải để đợi má và dì tôi mà vì tôi vừa thấy người đàn bà tật nguyền hôm nào. Bà đang lê đôi gối trước cửa một tiệm ăn, không dù che cũng chẳng phủ áo mưa. Tôi nhìn bà quên cả nước mưa đang từng giọt rơi nhanh xuống người tôi. Và như nghĩ ra được điều gì, tôi chạy ngược về phía má và dì tôi đang còn chậm chạp phía sau. Tôn chắn ngang trước mặt má tôi, vội vả nói:

- Má cho con mượn cây dù.

Má tôi ngạc nhiên nhìn tôi chưa kịp đưa thì tôi đã nhanh nhẩu cầm như giựt chiếc dù trên tay người rồi chạy nhanh về phía người đàn bà tàn tật, lòng thầm mong bà đừng biến vào một ngỏ hẽm nào. May mắn thay, bà vẫn còn đúng đó, ướt sủng, co ro. Tôi đến bên bà, đưa chiếc dù tận tay và nói mau:

- Chiếc dù này của bà đó, bà che cho bớt lạnh.

Người đàn bà khốn khổ nhìn tôi ngơ ngác, và như chợt hiểu ra, bà cầm dù, nói tiếng cám ơn và mĩm cười hoan hỉ. Tôi thấy mắt ba long lanh ướt, không biết nước mưa hay nước mắt tình người. Tôi sung sướng thấy bà không từ chối như đã từ chối những tờ giấy bạc miệt khinh của những khách da trắng hôm nào. Má tôi và dì tôi cũng vừa đi trờ tới, hai người nhìn cảnh trứoc mặt và cũng mĩm cười hiểu chuyện, tôi thấy vẻ hài lòng của má tôi, điều đó làm tôi nghe hạnh phúc. Chúng tôi cùng bước dưới mưa, nhưng tôi nghe lòng ấm áp lám sao. Từ giây phút nầy tôi không nghĩ mình là một du khách tìm thăm xứ lạ nữa. Những giọt nước trong cơn mưa chiều đang tưới mát hồn tôi để tôi nghe nữa giòng máu Việt đang luân lưu đưa tôi trở lại nguồn bằng một chuyến hồi hương về thăm quê mẹ.